Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2016

Phụ nữ chống lại lão hóa cơ thể

Phụ nữ chống lại lão hóa cơ thể 
Phụ nữ luôn mong muốn trông mình lúc nào cũng thật tươi trẻ và quyến rũ. Tuy nhiên, một vấn đề ảnh hưởng đến sắc đẹp cũng như sức khỏe mà tuy không muốn nhưng phụ nữ vẫn phải đối diện với sự lão hóa cơ thể. Vậy nguyên nhân lão hóa do đâu? Những dấu hiệu của sự lão hóa và cách để đối phó với điều này là gì? 
Nguyên nhân của sự lão hóa
Phụ nữ thường lão hóa bắt đầu từ sau 25 tuổi, và có xu hướng nhanh hơn nam giới, thông thường phụ nữ bị lão hóa cơ thể là do những nguyên nhân sau:
Do tuổi tác: khi tuổi càng cao thì cơ thể càng bị lão hóa đó là đặc điểm chung của cả tất cả những cơ thể sống.
Do do sự thay đổi nội tiết tố trong quá trình dậy thì, mang thai, sinh nở và thời kỳ mãn kinh.
Do hoàn cảnh sống và cách sống: những phụ nữ lao động chân tay mệt nhọc, hoàn cảnh sống khó khăn hoặc những phụ nữ có chế độ sinh hoạt không lành mạnh, lười vận động… thường lão hóa nhanh hơn.
Do chế độ ăn uống: Những phụ nữ uống ít nước, ăn nhiều thực phẩm có chứa chất béo, chất ngọt, ăn đồ nhanh, đồ nướng… là tăng khả năng lão hóa.
Do ảnh hưởng của yếu tố tâm lý: Những phụ nữ thường bị căng thẳng, lo lắng nhiều, phiền muộn, đời sống tình cảm không được hạnh phúc… thường lão hóa nhanh.
Bên cạnh những lý do trên còn có một vài nguyên nhân khác dẫn đến lão hóa cơ thể ở nữ giới như: do yếu tố di truyền, đặc điểm cơ thể của người phụ nữ, do bệnh tật hoặc béo phì…
Sau đây là một số dấu hiệu chính của sự lão hóa ở nữ giới :
- Suy giảm tổng thể về năng lượng và sức sống
- Cơ thể thường hay mệt mỏi
- Khó ngủ hoặc ngủ không ngon giấc
- Giảm trí nhớ
- Thay đổi hành vi
- Da thay đổi như nếp nhăn, mất tính đàn hồi của da, màu da không đều, xuất hiện nám và tàn nhang, lỗ chân lông to, da sạm và thô ráp…
- Thay đổi màu tóc, rụng tóc
- Thị lực và thính lực giảm
- Mắc một số vấn đề về răng miệng: nướu kém, hàm yếu, rụng răng…
- Thay đổi trong chức năng đường ruột
- Giảm ham muốn tình dục
- Rối loạn chức năng tình dục
- Các vấn đề liên quan đến tiêu hóa như: đi tiểu không kiểm soát, thay đổi số lần đi tiểu.
- Thay đổi trong chu kỳ kinh nguyệt
- Bụng béo phì và không có khả năng giảm cân
- Ngoài ra còn kéo theo một số bệnh tật như loãng xương, tim mạch, trí não…
Những biện pháp chống lại dấu hiệu của sự lão hóa
- Uống đủ nước: Nếu bạn muốn trông trẻ hơn bạn cần phải uống nhiều nước mỗi ngày, đó là một phần thiết yếu của việc chống lão hóa.. Uống đủ nước sẽ giúp tuần hoàn máu tốt có thể giúp ngăn ngừa vết nhăn và vết nám trên da hơn thế nữa còn làm mạch máu không bị nổi rõ khiến da bạn nóm tự nhiên khỏe mạnh hơn.
- Tập thể dục thường xuyên: Đây là biện pháp rất tốt để ngăn ngừa lão hóa. Tập thể dục sẽ cho bạn thêm năng lượng, giúp gia tăng và lưu thông mạch máu dưới da, giúp ngăn ngừa cao huyết áp, giảm lo âu, đem đến cho bạn sức khỏe và tinh thần thoải mái giúp bạn trẻ lâu .
- Ăn đúng bữa và ăn đủ chất, không nên ăn quá nhiều chất béo vì chất béo có thể phá hủy các động mạch và còn có thể sẽ khiến bạn bị lão hóa nhanh hơn. Nên ăn nhiều rau tươi, trái cây và ngũ cốc,-tất cả những chất chống oxy hóa cao.
- Chăm sóc da thường xuyên cũng là một biện pháp hữu hiệu dể có thể đảo ngược quá trình lão hóa và làm giảm nếp nhăn. Hãy chọn một sản phẩm dưỡng ẩm da phù hợp và tẩy tế bào chết thường xuyên để làn da được trẻ hơn.
Bên cạnh đó bạn nên tránh những thói quen xấu như thức khuya, ăn vặt nhiều, và không nên sử dụng các chất kích thích như rượu, bia, thuốc lá, café…
Chúng ta hãy quên đi tuổi già bằng cách sống và duy trì một lối sống lành mạnh, tươi vui. Sẽ không bao giờ là quá trẻ hoặc quá già để chống lại các dấu hiệu của sự lão hóa..

Khi nào phụ nữ nên kiêng chuyện ấy?

Khi nào phụ nữ nên kiêng chuyện ấy? 
“Chuyện ấy” luôn cần thiết và là gia vị không thể thiếu cho đời sống vợ chồng được mặn nồng, hạnh phúc, tuy nhiên không phải lúc nào bạn cũng sẵn sàng vào cuôc. Có những lúc bạn phải “ kiêng yêu” vì sức khỏe của cả hai vợ chồng cũng như để duy trì đời sống tình dục lành mạnh. 
Sau đây là một số trường hợp phụ nữ cần lưu ý nên kiêng “chuyện ấy”:
1.  Thời kỳ kinh nguyệt
Trong những ngày bạn bị đèn đỏ, màng trong tử cung có vết thương, sức đề kháng của cơ thể giảm sút, sinh hoạt tình dục rất dễ bị viêm nhiễm, thậm chí gây các bệnh phụ khoa phức tạp như rối loạn kinh nguyệt, nước ối không sạch… ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe. Vì vậy tốt nhất là phụ nữ nên kiêng không quan hệ tình dục trong thời kỳ kinh nguyệt.
2.  Viêm nhiễm âm đạo
Viêm nhiễm âm đạo là bệnh do vi trùng, nấm… thường khiến âm đạo có triệu chững ngứa, đỏ tấy và đau rát. Lúc này các vi khuẩn nấm rất dễ lây lan, nếu có dùng bao cao su thì cũng chỉ cần một phần tiếp xúc nhỏ, không đáng kể cũng có thể gây ra lây nhiễm. Để đảm bảo sức khỏe cho cả 2 vợ chồng bạn không nên quan hệ tình dục trong thời gian này. Và chỉ làm chuyện ấy khi viêm nhiễm đã được chữa trị khỏi hẳn.
3.  Bàng quang có vấn đề
Trong trường hợp bị nhiễm trùng đường tiết niệu bạn cần phải tránh quan hệ tình dục vì việc cọ xát trong khi làm chuyện ấy không chỉ gây cảm giác đau rát, kích thích bàng quang mà còn lây lan sự nhiễm trùng cho “ đối tác”. Hãy kiêng đến khi nào bạn trị được hẳn căn bệnh này .
4.  Sau khi phá thai và sinh nở
Sau khi phá thai (sẩy thai) hay vừa sinh nở, cổ tử cung cũng như âm đạo của bạn đang bị tổn thương cần thời gian để hồi phục. Nếu quan hệ sớm lúc này, phụ nữ rất dễ có nguy cơ nhiếm trùng nặng. Đặc biệt là quan hệ sớm sau sinh còn có thể dẫn đến tắc mạch do khí và có thể gây biến chứng dẫn đến tử vong.
Do đó các bác sỹ khuyên ít nhất 4- 8 tuần tùy vào sự hồi phục của mỗi người sau khi sinh mới nên quan hệ tình dục trở lại.
Trong thời gian cần kiêng cữ, nếu ham muốn của vợ chồng bạn quá cao thì chỉ nên có những hành động tình cảm âu yếm bên ngoài để giải tỏa tinh thần cho cả hai.
5.  Viêm gan B
Nếu một trong hai người (vợ hoặc chồng bạn) đang nhiễm bệnh viêm gan do virut viêm gan B gây ra thì tốt nhất là không quan hệ tình dục cho đến khi điều trị bình phục, vì virut viêm gan B ngoài truyền nhiễm qua đường máu còn lây nhiễm qua đường tình dục. Nếu phải điều trị lâu dài thì tốt nhất người chưa bị mắc bệnh nên đi tiêm phòng sau đó vợ chồng có thể quan hệ nhưng cần dùng bao cao su để phòng chống lây nhiễm.
6.  Thời kì mang thai
Trong ba tháng đầu của thai kỳ là thời kỳ thai nhi đang trong quá trình hình thành em bé nên, chưa bám chắc vào cơ thể người mẹ nên rất dễ bị sảy thai, động thai vì vậy trong ba tháng đầu này tốt nhất người mẹ nên kiêng giao hợp hoặc giao hợp thật nhẹ nhàng, chọn tư thể ít làm ảnh hưởng đến thai nhi. Đối với những thai phụ có dấu hiệu động thai, dọa sảy thai hoặc có tiền sử sảy thai thì tốt nhất lúc này vợ chồng không nên quan hệ.
Hai tháng cuối của thai kỳ là lúc thai nhi đã lớn rất dễ đẻ non nếu có bất thường gì xảy ra vì vậy đây cũng là thời điểm bạn nên kiêng giao hợp để chuẩn bị chào đón bé yêu!
7.  Mắc bệnh lây qua đường tình dục
Khi vợ hoặc chồng mắc một trong số các bệnh lây truyển qua đường tình dục như lậu, giang mai, sùi mào gà… thì tốt nhất hai vợ chồng nên kiêng chuyện ấy cho đến khi điều trị khỏi bệnh, vừa tránh lây nhiễm vừa để điều trị bệnh được tốt hơn.
Với những người mà vợ hoặc chồng bị HIV thì cần dừng chuyện quan hệ lại, cả hai vợ chồng cần đi thăm khám thường xuyên, nhận được tư vấn của bác sỹ xem bạn có nên tiếp tục quan hệ tình dục trong đời sống vợ chồng và bạn cần làm gì, nếu quan hệ nhất thiết phải dùng bao cao su.
Dù rất muốn nhưng vì sức khỏe của cả hai vợ chồng, hãy biết trì hoãn “ cuộc yêu” đúng lúc nhé.

Khả năng sinh sản của nữ giới

Khả năng sinh sản của nữ giới 
Khả năng sinh sản đối với mỗi phụ nữ khác nhau là khác nhau. Trong khi có một số phụ nữ rất dễ dàng để thụ thai và sinh đẻ thì có những phụ nữ lại gặp không ít khó khăn trong vấn đề này, thậm chí có những phụ nữ còn bất lực trước việc sinh sản. Nhưng khả năng sinh sản không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố sinh học: một lối sống lành mạnh và thói quen đơn giản có thể tăng cơ hội làm mẹ cho phụ nữ. 
Khả năng sinh sản của nữ giới là gì?
Khả năng sinh sản của nữ giới là khả năng của một người phụ nữ có đủ điều kiện cần thiết để thụ thai, mang thai và sinh đẻ. Phụ nữ có khả năng sinh đẻ từ khi họ bước vào độ tuổi dậy thì cho đến khi mãn kinh.
Các bác sĩ cho rằng một chứng rối loạn sinh sản có thể xuất hiện khi một cặp vợ chồng không có con sau một năm kế hôn và sinh hoạt tình dục mà không sử dụng một biện pháp tránh thai nào.
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến khả năng sinh sản?
- Yếu tố đầu tiên cần xem xét là độ tuổi sinh sản, độ tuổi sinh sản không hợp lý làm giảm đáng kể khả năng sinh sản. Độ tuổi sinh sản tốt nhất cho phụ nữ là khoảng từ 20 đến 30 tuổi, trước tuổi 20 nếu người phụ nữ mang thai được gọi là mang thai sớm so với độ tuổi sinh sản, điều này cũng không thuận lợi cho thai kỳ và sinh đẻ của người phụ nữ, khả năng sinh sản của người phụ nữ bắt đầu suy giảm từ 30 tuổi đến 35 tuổi, sau đó giảm nghiêm trọng khi quá 35 tuổi, đến 45 tuổi thì khả năng sinh sản rất thấp thậm chí có những phụ nữ không còn khả năng sinh sản mà đã bước vào thời kỳ mãn kinh. Tuổi tác đóng vai trò quan trọng về khả năng sinh sản vì sự rụng trứng có thể bất thường hoặc không xảy ra và tử cung không đủ khả năng nuôi dưỡng thai khi phụ nữ đã quá độ tuổi sinh sản.
- Khả năng sinh sản phụ thuộc vào thói quen lối sống của họ: hút thuốc lá, rượu, ma túy hoặc caffeine có thể ảnh hưởng đến cơ hội thụ thai, những phụ nữ không sử dụng các chất kích thích trên thì dễ dàng thụ thai hơn những phụ nữ sử dụng các chất đó. Tiếp đó là các phụ nữ mắc chứng biếng ăn và béo phì cũng làm giảm khả năng thụ thai và sinh sản.
- Một yếu tố rất quan trọng là liệu tiếp xúc với các chất độc hại (bức xạ, thuốc trừ sâu, dung môi ...) thậm chí có thể dẫn đến vô sinh.
- Stress cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản: một người phụ nữ thoải mái và thanh thản khả năng thụ thai và sinh con tốt hơn một phụ nữ luôn căng thẳng trong công việc hoặc trong cuộc sống hàng ngày.
- Yếu tố cuối cùng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản là tần suất quan hệ tình dục: Phụ nữ chỉ biết một vài quan hệ tình dục một tháng nếu không trúng thời điểm rụng trứng thì khó khăn cho việc thụ thai
Làm thế nào để tăng cơ hội thụ thai của mình?
- Nếu sau vài tháng vợ chồng quan hệ mà bạn không nhìn thấy bất kỳ dấu hiệu mang thai thì bạn hãy thay đổi lối sống của bạnThư giãn và học cách thư giãn vào buổi tối sau khi làm việc, hoặc đi matxa.
- Tìm hiểu để xác định ngày rụng trứng của bạn, hiệu quả và phương pháp đơn giản có thể giúp bạn như đo thân nhiệt cơ thể vào các buổi sáng sớm khi vừa ngủ dậy, nếu nhiệt độ của bạn tăng lên khoảng 0.5 độ trong một vài ngày nhất định thì thời điểm đó chính là thời điểm rụng trứng trong tháng của bạn, hoặc bạn hãy thường xuyên kiểm tra, quan sát màng nhày cổ tử cung, hoặc mua dụng cụ thử nước tiểu để xác định ngày trứng rụng khi bạn nghi thời thời điểm đó trứng rụng.
- Trục xuất tất cả các sản phẩm có hại cho khả năng thụ thai như: thuốc lá, rượu, cà phê, và thay thế bằng các sản phẩm tốt cho khả năng sinh sản như nước hoa quả. Hãy chắc chắn để có một chế độ ăn uống cân bằng và đa dạng (thịt, cá, rau, trái cây, sữa ... vv) và không được phép bỏ bữa, thường xuyên uống nước lọc.
- Bạn nên thường xuyên vận động cơ thể không đứng hoặc ngồi quá lâu ở một chỗ, tập thể dục nhẹ nhàng không quá 30 phút / 1 ngày giúp cơ thể bạn khỏe khắn để thụ thai.
- Yếu tố cuối cùng giúp bạn tăng khả năng thụ thai là vợ chồng bạn cần gia tăng tần suốt quan hệ tình dục vào đúng thời điểm trứng rụng, tuy nhiên không nên quan hệ quá nhiều trong thời điểm này ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng cũng khó thụ thai, bạn có thể quan hệ 24h một lần vào thời điểm trứng rụng. Và đặt biệt là tình yêu của hai vợ chồng lúc nào cũng phải nồng cháy, hạnh phúc viên mãn có thể giúp bạn gia tăng cơ hội thụ thai.

Vấn đề về kích cỡ dương vật

Vấn đề về kích cỡ dương vật 
 Ngay cả trong thời đại này, khi mà ngành y học đã có những bước tiến vượt bậc thì người đàn ông vẫn không khỏi băn khoăn về kích cỡ “cậu nhỏ” của mình. Hầu hết những người coi kích cỡ dương vật là nỗi ám ảnh đều lo ngại khi dương vật quá nhỏ chứ hiếm khi họ gặp phải trường hợp dương vật “quá cỡ”… 
 1.  Chiều dài trung bình của dương vật
Một dương vật khi chưa cương cứng thông thường dài khoảng từ 8,5 – 10,5cm tính từ phần đầu đến phần gốc và con số trung bình rơi vào quãng 9,5cm. Tuy nhiên, điều này hầu như không cố định vì nhiều lúc, do một vài nguyên nhân nào đó, “cậu nhỏ” của bạn có thể bị co rút tạm thời và ngắn lại nên bạn đừng quá lo lắng khi thỉnh thoảng cảm thấy dấu hiệu bất thường về kích cỡ nơi “vùng kín”.
Trường hợp “cậu nhỏ” cương cứng do bị kích thích, chiều dài của nó có thể tăng gấp vài lần so với bình thường (15 – 18cm), trung bình chiều dài dương vật khi cương cứng là 16,5cm. Song, điều đáng nói là đa phần dương vật đều có kích thước như nhau khi cương cứng. Theo một nghiên cứu của Mỹ, người đàn ông có dương vật khi chưa cương cứng nhỏ dễ đạt được kích cỡ tối đa 100% trong quan hệ tình dục. Ngược lại, dương vật của người đàn ông khi chưa cương cứng lớn thì chiều dài và thể tích khi bị kích thích tình dục sẽ tăng khoảng 75%.
2.  Ảnh hưởng của kích cỡ dương vật tới quan hệ tình dục
Đàn ông hay quan trọng hóa vấn đề kích cỡ dương vật nhưng thực tế, mấu chốt của vấn đề không phải là dương vật dài bao nhiêu bởi lẽ âm đạo của phái nữ có thể thích nghi với bất kỳ “cậu nhỏ” nào, cho dù dài hay ngắn.
Nếu “cậu nhỏ” có kích cỡ vừa phải thì khả năng sẽ đi vào âm đạo một cách dễ dàng hơn, song, nếu nó quá cỡ thì âm đạo của bạn tình sẽ có thể mở ra 150 – 200% để phối hợp nhịp nhàng với nó.
Tất nhiên kích cỡ dương vật cũng ảnh hưởng ít nhiều đến cảm xúc tình dục của đôi lứa khi “yêu”. Tuy vậy, một khi bạn đã cải thiện được tình hình hoặc dần dần thích nghi thì mọi chuyện sẽ đơn giản hơn rất nhiều.
3. Giải quyết nỗi lo về kích cỡ “cậu nhỏ”
Nếu bạn thực sự lo lắng rằng kích cỡ “cậu nhỏ” của bạn không ổn, hãy đến gặp bác sỹ để được tư vấn cụ thể bạn nhé!
Qua thăm khám, bác sỹ sẽ bắt được bệnh của bạn và có thể giải quyết nỗi lo về kích cỡ dương vật bằng cách điều chỉnh kích cỡ:
* Phần lớn “đấng mày râu” gặp vấn đề về “cậu nhỏ” đều rơi vào trường hợp dương vật quá nhỏ. Lúc này, bạn sẽ được:
- Dùng thuốc viên để uống hoặc thuốc nhét để đặt vào dương vật
- Phẫu thuật tăng kích cỡ dương vật
- Áp dụng các bài tập nhằm làm tăng kích cỡ “cậu nhỏ
- Sử dụng thiết bị hút dương vật
Tùy theo tình trạng bệnh tình của từng người mà bác sỹ áp dụng những phương pháp riêng nhằm xử lý triệt để nhất vấn đề bạn đang phải đối mặt.
* Còn nếu dương vật của bạn quá cỡ, bác sỹ sẽ giúp bạn giảm kích cỡ của nó đến một mức độ phù hợp. Việc giảm chiều dài và thể tích “cậu nhỏ” vốn mạo hiểm và nhiều rủi ro nên bạn nam cần cực kỳ cẩn trọng, cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định tiến hành. Nói tóm lại, trừ khi một chuyên gia tư vấn tiết niệu uy tín cho rằng giảm kích cỡ dương vật là thực sự cần thiết thì bạn hãy làm, nếu “sa chân lỡ bước”, hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng đấy!
Lưu ý: trên đây là bài dịch lấy nguồn từ website  http://www.netdoctor.co.ukđây là một website của Anh, bài viết dựa trên nghiên cứu từ những người đàn ông Phương Tây nên các số liệu có thể chưa thực sự phù hợp với người phương Đông như Việt Nam chúng ta. Bài viết có tính chất tham khảo.
(Nguồn: http://www.netdoctor.co.uk)

Ảnh hưởng của rối loạn ăn uống tới việc mang thai

Ảnh hưởng của rối loạn ăn uống tới việc mang thai 
Rối loạn ăn uống cũng là một chứng bệnh thường xuất hiện ở phụ nữ, đặc biệt là trong thời gian mang thai. Thông thường có hai dạng rối loạn ăn uống điển hình đó là biếng ăn và háu ăn. Cả hai loại rối loạn ăn uống đều ảnh hưởng đến quá trình sinh sản và mang thai. 
Ảnh hưởng của rối loạn ăn uống đến khả năng sinh sản
Rối loạn ăn uống, đặc biệt là chán ăn, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản bằng cách giảm khả năng thụ thai. Hầu hết phụ nữ với chứng biếng ăn không có chu kỳ kinh nguyệt và khoảng 50% phụ nữ bị chứng háu ăn có chu kỳ kinh nguyệt không bình thường. Sự vắng mặt của kinh nguyệt là do lượng calo giảm, tập thể dục quá nhiều, hoặc căng thẳng tâm lý. Đương nhiên, nếu chu kỳ kinh nguyệt của họ không được thường xuyên thì việc mang thai sẽ khó khăn.
Không chỉ ảnh hưởng đến chu kỳ kinh nguyệt, rối loạn ăn uống còn ảnh hưởng đến khả năng sinh sản ngay cả khi việc rụng trứng đã sảy ra thông qua việc ảnh hưởng đến sự thụ tinh và làm tổ của trứng trong tử cung.
Ảnh hưởng của rối loạn ăn uống đến thai kỳ
Phụ nữ mang thai bị rối loạn ăn uống ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của cả mẹ và bé. Chứng biếng ăn dẫn đến việc hạn chế cung cấp dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, thiếu dinh dưỡng trong thai kỳ có ảnh hưởng nghiêm trọng đến thai phụ và sự phát triển của thai nhi. Chứng háu ăn thì ngược lại sẽ làm thai phụ phải ăn quá nhiều, đưa vào cơ thể quá nhiều calo dư thừa và cả những chất dinh dưỡng không cần thiết. Các biến chứng sau đây có liên quan với rối loạn ăn uống khi mang thai:
•  Đẻ non
•  Trẻ thiếu cân
•  Thai chết lưu hoặc thai chết
•  Thai nhi tăng trưởng và phát triển chậm trong tử cung
•  Thường phải sinh mổ
•  Chỉ số APGAR (chỉ số đánh giá sức khỏe) của trẻ thấp
•  Thai nhi chậm phát triển
•  Trẻ mắc các vấn đề hô hấp
•  Thai phụ có thể mắc bệnh tiểu đường thai kỳ
•  Các biến chứng trong quá trình sinh nở
•  Ít nước ối
•  Sẩy thai
•  Tiền sản giật
Phụ nữ mang thai nếu mắc chứng háu ăn và ăn nhiều quá sẽ tăng cân quá mức và có nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp. Sau khi sinh những sản phụ đã mắc rối loạn ăn uống trong thời gian mang thai sẽ ảnh hưởng đến khả năng điều tiết sữa và nuôi con.
Các thuốc nhuận tràng, thuốc lợi tiểu, và các thuốc khác sử dụng để chống dư thừa calo nhưng đồng thời chúng lấy đi chất dinh dưỡng và các chất lỏng dùng để nuôi dưỡng cơ thể mẹ và thai nhi vì thể chúng có hại cho sự phát triển của trẻ.
Phụ nữ bị rối loạn ăn uống cần làm gì?
Dưới đây là một số hướng dẫn cho những phụ nữ đang đối phó với rối loạn ăn uống và mong muốn có thai hoặc đang mang thai:
•  Trước khi mang thai:
o  Đạt được và duy trì trọng lượng cơ thể bình thường và khỏe mạnh .
o  Kiểm tra trọng lượng cơ thể và sức khỏe tổng quát trước khi mang thai, cần tham khảo ý kiến của bác sỹ nếu gặp các vấn đề liên quan đến hệ tiêu hóa.
o  Tham khảo ý kiến của các chuyên gia dinh dưỡng và bắt đầu một chế độ ăn uống dành cho người chuẩn bị mang thai, đặc biệt bổ sung các vitamin trước khi mang thai.
o  Nếu mắc chứng rối loạn ăn uống cần điều trị trước khi mang thai.
•  Trong thời gian mang thai:
o  Thường xuyên khám thai và thông báo cho bác sỹ theo dõi trực tiếp quá trình mang thai của bạn nếu bạn có nguy cơ mắc chứng rối loạn ăn uống.
o  Việc tăng cân bình thường là cần thiết trong thai kỳ vì vậy bạn cần cố gắng duy trì cho mình chế độ ăn uống hợp lý trong thai kỳ, nếu gặp phải cảm giác chán ăn hay háu ăn thì bạn cũng cố gắng chia nhỏ các bữa ăn, ăn một lượng thức ăn vừa phải và không quên cung cấp nước cho cơ thể. Bạn cần đấu tranh vượt qua cảm giác này với suy nghĩ “ăn vì sức khỏe của cả mẹ và con”.
o  Tham khảo ý kiến của các chuyên gia dinh dưỡng và bắt đầu một chế độ ăn uống dành cho người mang thai, đặc biệt bổ sung các vitamin trong thời gian mang thai.
o  Không tự ý sử dụng bất kỳ một loại thuốc nào để chữa trị các chứng rối loạn ăn uống mà cần đi khám và tham khảo ý kiến bác sỹ.
•  Sau khi sinh:
o  Mắc chứng rối loạn ăn uống có thể dẫn đến nguy cơ mắc chứng trầm cảm sau khi sinh, hoặc ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và bé, đặc biệt là ảnh hưởng đến khả năng nuôi con bằng sữa mẹ. Vì vậy với những phụ nữ mắc chứng rối loạn ăn uống sau khi sinh cần được theo dõi và chăm sóc cẩn thận, không tự ý sử dụng các loại thuốc điều trị mà cần thông qua ý kiến của bác sỹ điều trị.

Phòng tránh lây nhiễm HIV khi "yêu"

Phòng tránh lây nhiễm HIV khi "yêu" 
Trong những con đường lây truyền của virut HIV, lây truyền qua đường tình dục là con đường phổ biến nhất. Làm thế nào để phòng tránh lây nhiễm HIV thông qua con đường này là việc làm mà tất cả các bạn trẻ cần phải quan tâm để bảo vệ cho mình và cộng đồng. 

Cơ chế lây truyền của virut HIV qua đường tình dục
Virus HIV có rất nhiều trong máu, trong các chất dịch sinh dục. Do vậy, trong quá trình giao hợp, chúng có thể xâm nhập vào máu của đối phương qua cơ quan sinh dục. Nếu người đàn ông có H, HIV có thể đi qua lớp niêm mạc âm đạo của bạn tình vào những mạch máu nhỏ li ti có rất nhiều dưới lớp niêm mạc, khiến họ bị lây nhiễm. Trường hợp người phụ nữ mang HIV thì những con virus này có thể truyền sang đối phương qua niêm mạc ở lỗ dương vật hoặc qua lớp da bao phủ đầu dương vật ở phía ngoài. Lớp da này mỏng nên trong khi giao hợp dễ bị xây xước rất nhỏ khó nhận thấy, tạo điều kiện cho HIV xâm nhập.
Kiểu quan hệ gây nhiều xây xước là quan hệ qua đường hậu môn vì hậu môn và trực tràng không có dịch trơn như âm đạo. Chính những tổn thương đó là cửa ngõ cho HIV xâm nhập một cách dễ dàng vào cơ thể bạn.
Trong quan hệ tình dục, ai là người nhận tinh dịch, người đó dễ bị nhiễm HIV hơn. Người mắc bệnh lây qua đường tình dục mãn tính bị viêm loét như giang mai, lậu, hạ cam... có nguy cơ nhiễm HIV cao gấp hàng chục lần so với những người khác. Càng có nhiều bạn tình càng làm tăng khả năng bị lây nhiễm HIV vì người nhiễm HIV không có biểu hiện gì khác so với người bình thường. Tần suất lây HIV qua một lần giao hợp là 0,1 - 1%.
Như vậy, có thể nói, việc sinh hoạt tình dục, dù có giao hợp hay chỉ là tiếp xúc cơ quan sinh dục, đều dẫn đến nguy cơ lây nhiễm. Hiện nay, theo các nghiên cứu đáng tin cậy, lây truyền HIV qua đường tình dục là đường lây truyền phổ biến nhất, chiếm tới 80% các trường hợp lây nhiễm ở một số nước, nhất là ở các nước phương Tây.
Để tránh lây truyền HIV trong quan hệ tình dục, chúng ta phải làm gì?
1. Hôn nhân chung thủy
Để phòng tránh lây nhiễm HIV qua đường tình dục thì các cặp vợ chồng cần thực hiện hôn nhân chung thủy một vợ, một chồng. Trước khi đi đến quyết định hôn nhân cả nam và nữ cần phải đi khám sức khỏe tổng quát để nắm được tình trạng sức khỏe nói chung và sức khỏe sinh sản cũng như sức khỏe tình dục nói riêng, đặc biệt là để phòng tránh những bệnh lây truyền qua đường tình dục trong đó có HIV.
Trong mọi sinh hoạt cá nhân hằng ngày như cạo râu, cắt tóc, tiêm... Bạn cần cẩn thận, vệ sinh sạch sẽ các dụng cụ, không dùng lại các dụng cụ của người khác. Không để lây nhiễm HIV cho bản thân cũng như người bạn đời của mình.
2. Đảm bảo tình dục an toàn
Hiểu đơn giản, tình dục an toàn là các cách quan hệ tình dục để giảm hoặc tránh nguy cơ bị nhiễm HIV và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục (giang mai, lậu và các viêm nhiễm khác).
Nguyên tắc cơ bản của tình dục an toàn là không để máu, tinh dịch hoặc dịch âm đạo, dịch dương vật của bạn tình xâm nhập vào cơ thể của bạn, trừ khi bạn biết chắc người đó không nhiễm HIV và các bệnh lây qua đường tình dục khác. Vẻ ngoài đôi khi không nói lên điều gì, vì vậy bạn đừng vội tin vào lời khẳng định mình “trong sạch” của đối phương, bạn nhé! Chỉ có thử máu mới nói lên tất cả. Tuy nhiên nếu người mới bị lây nhiễm thì kết quả xét nghiệm cũng chưa nói lên điều gì.
Thực hiện tình dục an toàn có thể bằng những cách sau:
- Luôn luôn sử dụng bao cao su đúng cách khi quan hệ tình dục thông qua đường dương vật – âm đạo, dương vật - hậu môn. Trong trường hợp che chắn, bảo vệ cho “cô nhỏ” hoặc “cậu nhỏ” của bạn, bao cao su sẽ là “vị thần hộ mệnh” đắc lực giúp bạn tránh được HIV và bao nhiêu rắc rối khác.
- Đối với những người đã bị nhiễm HIV thì  thủ dâm cách thức tốt nhất để không lây truyền HIV sang người khác. Tiến hành thủ dâm bằng cách tự mình kích thích các vùng nhạy cảm của bộ phận sinh dục để đạt khoái cảm tình dục mà không cần giao hợp. Hành vi này không có hại cho sức khỏe.
- Thực hiện tình dục không giao hợp, nghĩa là làm các động tác khiến cho cả hai bên đạt tới cực khoái mà không có giao hợp và không tiếp xúc với máu, tinh dịch hoặc dịch tiết âm đạo.
Ngoài ra, việc phát hiện sớm và chữa trị kịp thời các bệnh lây truyền qua đường tình dục cũng giúp giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS vì những tổn thương do nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục sẽ là cửa vào lý tưởng cho HIV xâm nhập.
Nếu để ý đến lời nhắc nhở của chúng tôi, tin rằng HIV không bao giờ có cơ hội “hoành hành” trong cơ thể bạn đâu! Hãy bảo vệ cho chính bản thân và “người bạn” của mình tránh những nguy cơ lây nhiễm HIV bạn nhé!

Môi trường âm đạo có tính axit tạo điều kiện sinh con gái

Môi trường âm đạo có tính axit tạo điều kiện sinh con gái 
Môi trường âm đạo có tính axit sẽ tạo điều kiện cho tinh trùng X hoạt động nhanh nhẹn, khỏe mạnh để có thể thụ tinh với trứng tạo ra hợp tử có giới tính nữ. Vậy để môi trường này có tính axit thì trước và sau khi thụ thai vợ chồng cần làm gì? 
Những cách tác động:
Dưới đây là những cách để tác động làm cho môi trường âm đạo có tính axit và tính axit phát huy được tác dụng trong thụ thai:
-  Giao hợp 2 ngày trước khi rụng trứng: trước khi rụng trứng độ axit trong âm đạo rất mạnh, tỷ lệ tinh trùng Y còn sống đến ngày rụng trứng rất thấp, vì thế cơ hội tinh trùng X thụ tinh càng cao.
-  Người nữ ức chế khoái cảm, người nam phóng tinh ở vị trí nông trong âm đạo: Người nữ cố gắng ức chế hưng phấn và khoái cảm mới có thể duy trì độ axit trong âm đạo. Người nam phải đưa dương vật vào nông, cố gắng phóng tinh ở miệng âm đạo. Phóng tinh ở vị trí nông có thể kéo dài khoảng cách đi đến tử cung của tinh trùng. Trong khoảng thời gian này, tinh trùng Y không chịu được tính axit sẽ rơi rụng, số tinh trùng X đến được chỗ trứng khá nhiều.
-  Giao hợp 2 -3 ngày trước khi rụng trứng, không cần hạn chế quan hệ trước khi rụng trứng. Số tinh trùng Y vốn nhiều hơn số tinh trùng X. Việc kiêng cữ không quan hệ để dành tình trùng khiến số tinh trùng Y càng tăng thêm, càng nâng cao tỷ lệ thụ tinh trước của tinh trùng Y so với tinh trùng X.
-  Trong vòng một tuần sau khi thụ tinh phải kiêng không quan hệ tình dục. Nếu tiến hành giao hợp 2 -3 ngày trước khi rụng trứng mà chưa thụ tinh được thì khi giao hợp vào ngày rụng trứng sẽ tạo điều kiện cho tinh trùng Y hoạt động mạnh và nhanh. Vì vậy phải kiêng không quan hệ trong vòng một tuần.
- Hỗ trợ tinh trùng X và làm suy yếu tinh trùng Y, phụ nữ có thể thụt rửa âm đạo bằng dung dịch 1 thìa cà phê nước cốt chanh tươi hoà trong một lít nước đun sôi để nguội trước khi giao hợp 1 giờ để tạo môi trường có tính axit.
- Ăn uống: Trước khi thụ thai khoảng 3 tháng, cả hai vợ chồng cùng áp dụng chế độ ăn nhạt, uống nước suối có nhiều chất khoáng Ca sẽ tạo được môi trường axit cho tinh trùng X.
Cần lưu ý: việc xác định trước ngày trứng rụng 3-4 ngày khó chính xác, vì vậy phải dựa vào qui luật thân nhiệt ít nhất là 3 chu kỳ. Đối với phụ nữ có vòng kinh không đều, việc xác định này lại càng khó, đòi hỏi phải kiên trì theo dõi mới đạt kết quả.